Nhìn về tương lai quan hệ hợp tác Việt Nam – Hoa Kỳ
August 28, 2021

Nhìn về tương lai quan hệ hợp tác Việt Nam – Hoa Kỳ

August 28, 2021

*Nội dung bài viết từ phiên thảo luận thứ hai của Hội thảo trực tuyến về thực trạng và triển vọng hợp tác kinh tế Việt Nam – Hoa Kỳ do Đại học Fulbright Việt Nam phối hợp với Vụ Châu Mỹ (Bộ Ngoại giao) đồng tổ chức. Tiến sĩ Lê Thái Hà, Giám đốc nghiên cứu và giảng viên cao cấp Trường Chính sách công và Quản lý Fulbright chủ trì dẫn dắt thảo luận.

Những nỗ lực rất lớn của Việt Nam và Hoa Kỳ trong 26 năm qua (1995-2021) để chuyển từ cựu thù chiến tranh sang đối tác chiến lược đã tạo tiền đề khá vững chắc cho hợp tác song phương, đặc biệt về kinh tế – thương mại và đầu tư trong tương lai. Nhiều thách thức còn đó nhưng triển vọng của mối quan hệ hai nước khá tươi sáng. Ngoài thương mại và đầu tư, những lĩnh vực có nhiều tiềm năng phát triển bao gồm giáo dục, khoa học, công nghệ và năng lượng…

Theo các chuyên gia tại hội thảo, Việt Nam và Hoa Kỳ tiếp tục đối mặt với một số thách thức như bất cân đối cán cân thương mại, các vướng mắc về tiếp cận thị trường hàng hóa và dịch vụ, các khó khăn về thủ tục hành chính, khuôn khổ pháp lý cho hoạt động đầu tư và kinh doanh của Hoa Kỳ tại Việt Nam.

Bàn về câu chuyện bất cân đối cán cân thương mại, bà Virginia Foote, Chủ tịch và Giám đốc điều hành của Bay Global Strategies cho rằng các doanh nghiệp Hoa Kỳ có thể dễ dàng đầu tư vào Việt Nam nếu như mục tiêu của họ hướng đến xuất khẩu. Tuy nhiên, mọi việc trở nên khó khăn hơn nhiều nếu các doanh nghiệp muốn  bán vào thị trường Việt Nam hoặc phục vụ người tiêu dùng Việt Nam. “Thâm hụt thương mại của Hoa Kỳ đối với Việt Nam một phần là do Việt Nam thân thiện với xuất khẩu hơn là nhập khẩu và đầu tư về dịch vụ từ Hoa Kỳ, và thực hiện giới hạn sở hữu nước ngoài trong nhiều lĩnh vực. Việt Nam là một nền kinh tế vẫn đang loay hoay tìm cách thực hiện cải cách cơ cấu,” bà nhận xét.

Bà Virginia Foote, Chủ tịch và Giám đốc điều hành của Bay Global Strategies, phát biểu tại hội thảo

Khi Việt Nam mở cửa cho các doanh nghiệp FDI đó cũng là cơ hội để Việt Nam hợp tác với các doanh nghiệp toàn cầu, bên cạnh sự cạnh tranh đó còn là cơ hội học hỏi để nâng cao tiêu chuẩn phù hợp với tiêu chuẩn quốc tế. “Nếu Việt Nam tiếp tục bảo hộ thị trường nội địa, không cho phép sự cạnh tranh hoặc sự hợp tác và đầu tư từ nước ngoài, Việt Nam sẽ tự hạ tiêu chuẩn của mình và chặn nguồn đầu tư vào các công nghệ cấp cao hơn,” bà Virginia Foote cảnh báo.

Ông Vũ Tú Thành, Phó giám đốc điều hành khu vực của Hội đồng kinh doanh Hoa Kỳ-ASEAN, cho rằng đại dịch Covid-19 có thể không tạo ra những thách thức cho mối quan hệ song phương Việt Nam – Hoa Kỳ nói chung nhưng chắc chắn sẽ gây ra rất nhiều khó khăn và gián đoạn, đặc biệt là đối với chuỗi cung ứng trong ngắn hạn. “Với sự đứt gãy của chuỗi cung ứng, không chỉ các doanh nghiệp Hoa Kỳ sản xuất tại Việt Nam và xuất khẩu sang Hoa Kỳ, cũng như các doanh nghiệp nhập khẩu ở Hoa Kỳ sẽ bị ảnh hưởng, mà hàng triệu người tiêu dùng Hoa Kỳ sử dụng sản phẩm “made in Vietnam” cũng sẽ bị ảnh hưởng,” ông bình luận.

Ông Vũ Tú Thành nhận định những thách thức do đại dịch đặt ra cho hợp tác kinh tế Việt Nam – Hoa Kỳ là rất lớn và cảnh báo nếu Việt Nam không kiểm soát được tình hình dịch bệnh, rất nhiều doanh nghiệp Hoa Kỳ sẽ rút khỏi thị trường Việt Nam và không quay lại kể cả khi tình hình được kiểm soát.

Ông Vũ Tú Thành, Phó giám đốc điều hành khu vực của Hội đồng kinh doanh Hoa Kỳ-ASEAN

Những khuyến nghị cho tương lai

Bên cạnh sự cần thiết phải cải cách thủ tục hành chính và pháp lý, cải thiện cơ sở hạ tầng mềm, nâng cao kỹ năng quản lý tầm trung cho lực lượng lao động, bà Virginia Foote cho rằng Việt Nam nên tập trung phát triển nền kinh tế số, bởi hiện nay không có công ty và lĩnh vực công nghiệp nào mà không gắn với nền kinh tế kỹ thuật số; từ thương mại điện tử hoặc thanh toán điện tử cho đến chính phủ điện tử.

Mặc dù không rõ khả năng chính quyền mới của Tổng thống Hoa Kỳ Joe Biden có quay lại tái đàm phán gia nhập Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP, nay là CPTPP) hay không, bà cho rằng Việt Nam và Hoa Kỳ không nên để căng thẳng thương mại cản trở hợp tác trong nhiều lĩnh vực, mà thay vào đó nên cùng nhau giải quyết các vấn đề thương mại quan trọng. “Chúng tôi, các doanh nghiệp Hoa Kỳ phải chấp nhận việc không được hưởng các mức thuế quan thấp hơn mà TPP có thể mang lại, nhưng tôi tin rằng một ngày nào đó Việt Nam và Hoa Kỳ sẽ có một Hiệp định Thương mại Tự do (FTA) song phương,” bà chia sẻ.

Ông Phạm Quang Vinh, nguyên Đại sứ Việt Nam tại Hoa Kỳ

Ông Phạm Quang Vinh, nguyên Đại sứ Việt Nam tại Hoa Kỳ, cho rằng thách thức do dịch bệnh Covid gây ra đối với chuỗi cung ứng là điều đương nhiên, nhưng Việt Nam nên nhìn vào cơ hội mà nó mang lại và tận dụng các cơ hội đó. Bởi vì Hoa Kỳ muốn đa dạng chuỗi cung ứng, Việt Nam có thể tận dụng việc dịch chuyển chuỗi cung ứng từ Trung Quốc sang Việt Nam để trở thành một mũi nhọn trong tổng thể chuỗi cung ứng của Hoa Kỳ. Theo ông, Việt Nam có thể trở thành một mũi nhọn trong chuỗi cung ứng sản xuất vật tư y tế hay sản xuất vaccine phòng chống Covid trong khu vực, hoặc tận dụng việc Hoa Kỳ đang không muốn phụ thuộc vào Trung Quốc trong sản xuất vi mạch bán dẫn để trở thành một phần của chuỗi cung ứng này. Điện và an ninh năng lượng cũng là những lĩnh vực mà Việt Nam và Hoa Kỳ có tiềm năng hợp tác.

Tôi rất mong muốn Việt Nam chuẩn bị môi trường kinh doanh tốt hơn để biến những thách thức của việc chuyển dịch chuỗi cung ứng hiện tại do đại dịch Covid-19 và do cuộc chiến thương mại Mỹ – Trung thành cơ hội,” ông Vinh chia sẻ.

Ông Hoàng Nam Tiến, Chủ tịch FPT Telecom

Ông Hoàng Nam Tiến, Chủ tịch FPT Telecom cho rằng các doanh nghiệp cần chuyển đổi số cũng như người dân cần vaccine trong đại dịch Covid-19. Mới đây, FPT Telecom đã công bố phiên bản đầu tiên của E-COVAX (Economy COVAX), liệu pháp số giúp doanh nghiệp vận hành, kinh doanh không gián đoạn trong đại dịch. “Với kinh nghiệm đã làm việc 8 năm liền với những tập đoàn hàng đầu nước Mỹ, chúng tôi thấy rằng nước Mỹ có rất nhiều các giải pháp phù hợp với các doanh nghiệp, kể cả các doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Việt Nam. Và tôi mong muốn rằng, các tổ chức ở Mỹ sẽ viện trợ cho chúng tôi không chỉ là thuốc, vaccine, tiền bạc, hay lương thực mà hãy viện trợ cho chúng tôi cả những liều E-COVAX. Bởi vì, có 0,3% người Việt Nam hiện nay đang bị nhiễm Covid nhưng có đến 8% doanh nghiệp Việt Nam phải đóng cửa bởi vì ảnh hưởng của Covid,” ông phát biểu.

Các chuyên gia tham dự hội thảo cũng đưa ra những nhận định về triển vọng đầu tư của Hoa Kỳ vào giáo dục, đặc biệt là công nghệ giáo dục (edtech), tại Việt Nam. Theo ông Hoàng Nam Tiến, những mô hình hợp tác giáo dục Việt Nam – Hoa Kỳ như Đại học Fulbright Việt Nam, VinUni hay FUNiX (của FPT) rất tích cực vì mang lại cơ hội cho các học sinh Việt Nam được tiếp cận giáo dục tiên tiến, được học tiếng Anh và học tập suốt đời (lifelong learning) để trở thành những công dân toàn cầu. Đội ngũ những sinh viên Việt Nam sang Hoa Kỳ học tập khi trở về sẽ mang kinh nghiệm, tiền bạc và mối quan hệ với những tập đoàn hàng đầu thế giới, những tổ chức đầu tư quốc tế vào Việt Nam để đóng góp cho đất nước.

Về lâu dài, Việt Nam muốn cạnh tranh được, muốn hợp tác được thì phải đầu tư vào giáo dục. Chỉ có bằng giáo dục chúng ta mới cải thiện được thứ hạng, thay đổi được vị thế trên toàn cầu,” ông Tiến nhận xét.

Ông Chris Malone, Giám đốc điều hành của Panl, một công ty tư vấn chiến lược tập trung vào các dự án ở Đông Nam Á có tác động xã hội cao, chia sẻ về hợp tác giáo dục kết hợp với công nghệ, lấy ví dụ là Nhật Bản. Chính phủ Nhật Bản đã triển khai một chương trình gọi là GIGA (Global and Innovation Gateway for All) trong vài năm nay nhằm cung cấp máy tính và internet tốc độ cao cho học sinh các cấp và các kỹ thuật để giáo viên dạy học sinh cách sử dụng các công cụ kỹ thuật số và học trực tuyến. Chính phủ Nhật đã hợp tác với các tập đoàn công nghệ khổng lồ của Hoa Kỳ như Google, Microsoft và Apple trong chương trình này, đồng thời tạo cơ hội cho các công ty công nghệ trong nước tham gia.

Ông Chris Malone, Giám đốc điều hành của Panl, một công ty tư vấn chiến lược tập trung vào các dự án ở Đông Nam Á có tác động xã hội cao

Trước khi chương trình được triển khai, vào năm 2019, tỉ lệ học sinh lớp 1-12 ở Nhật Bản sử dụng một thiết bị công nghệ cho học tập chỉ là 15%. Cho đến năm nay, tỉ lệ đó là 75%: 75% học sinh Nhật Bản học tập với một thiết bị như máy tính xách tay hoặc Chromebook. Đó là một thành tựu to lớn, được thực hiện nhờ sự hợp tác với các công ty công nghệ Hoa Kỳ,” ông Chris Malone bình luận.

Mặc dù để đạt được tỉ lệ từ 15% đến 75% có vẻ là một điều không thể đối với Việt Nam, ông Chris Malone cho rằng Việt Nam có thể tận dụng một số nguồn lực có sẵn để thúc đẩy việc sử dụng công nghệ trong giáo dục: Việt Nam có tỉ lệ dân số được kết nối internet cao; Samsung – một trong những nhà sản xuất Chromebook hàng đầu trên thế giới – có nhà máy đặt tại Việt Nam…

Bình luận về triển vọng đầu tư vào giáo dục của Hoa Kỳ đối với Việt Nam, đặc biệt là công nghệ giáo dục (edtech), ông Chris Malone hình dung tương lai khi Việt Nam có thể thực hiện chuyển đổi số trong lĩnh vực giáo dục; điều này sẽ mang lại cơ hội cho các doanh nghiệp cung cấp công nghệ giáo dục trong nước và ngoài nước. Khi đó, các doanh nghiệp Việt Nam về công nghệ giáo dục cũng có tiềm năng xuất khẩu, ít nhất là sang khu vực ASEAN.

Bởi vì thực tế Hoa Kỳ là quốc gia dẫn đầu thế giới về việc sử dụng công nghệ kỹ thuật số trong giáo dục, trong khi Việt Nam là quốc gia đang có nhu cầu cấp thiết về chuyển đổi số trong giáo dục, tôi ủng hộ mạnh mẽ việc Hoa Kỳ tập trung đầu tư vào công nghệ giáo dục ở Việt Nam,” ông phát biểu.

  • Thúy Hằng

Những bài viết liên quan