Thành phố xanh và bền vững: liệu có trong tầm tay?
March 27, 2021

Thành phố xanh và bền vững: liệu có trong tầm tay?

March 27, 2021

Cần rất nhiều yếu tố để xây dựng những thành phố xanh, thân thiện với môi trường, nhưng tựu trung lại thì sự tham gia và hợp tác chặt chẽ của tất cả các thành phần trong xã hội, từ chính quyền địa phương, doanh nghiệp, giới nghiên cứu cho đến xã hội dân sự, là yếu tố cốt lõi đảm bảo sự thành công của mô hình "thành phố xanh". Đây là nội dung chính của hội thảo "Thủ đô Xanh Bắc Âu – Lãnh đạo, Quản lý, Bền vững và Đổi mới sáng tạo" do Trường Chính sách Công và Quản lý Fulbright (FSPPM) phối hợp với Đại sứ quán các nước Bắc Âu tại Việt Nam (Đan Mạch, Phần Lan, Na Uy và Thụy Điển) tổ chức nhân Ngày Bắc Âu 2021.

 

 

Hội thảo nhằm thúc đẩy trao đổi kiến thức, kinh nghiệm và các bài học thành công giữa các nước Bắc Âu và Việt Nam trong phát triển đô thị theo hướng xanh, sáng tạo và bền vững. Mặc dù có nhiều khác biệt về nền tảng xuất phát điểm phát triển của các thành phố Bắc Âu và các thành phố Việt Nam, những bài học rút ra từ các quốc gia Bắc Âu vẫn được xem là nguồn tham khảo đối với Việt Nam trong bước đầu thực thi những Mục tiêu Phát triển Bền vững (SDG) của Liên Hợp Quốc, đặc biệt là SDG 11 về Phát triển các đô thị toàn diện, an toàn, chống chịu và bền vững.

 

 

Tiến sĩ Vũ Thành Tự Anh, Giám đốc Trường Chính sách Công và Quản lý Fulbright nhấn mạnh, phát triển đô thị sẽ là một động lực tăng trưởng chính cho Việt Nam trong những thập niên sắp tới. Thách thức của đô thị hóa ở Việt Nam là làm thế nào để gia tăng năng lực cạnh tranh của đô thị nhưng vẫn kiểm soát được các ngoại tác tiêu cực như ô nhiễm môi trường và tắc nghẽn giao thông, đồng thời ứng phó hiệu quả với thiên tai và biến đổi khí hậu để các đô thị thực sự là nơi đáng sống và an toàn.

 

 

Chia sẻ quan điểm về vấn đề này, Đại sứ Đan Mạch tại Việt Nam Kim Højlund Christensen cho rằng, nhiều quốc gia trên thế giới sẽ phải đối mặt với thách thức làm thế nào đáp ứng được những nhu cầu của dân số đô thị đang tăng nhanh như nhu cầu về nhà ở, giao thông vận tải, năng lượng, xử lý rác thải... theo hướng bền vững. Các thành phố ở Bắc Âu nhỏ và dễ quản lý hơn các thành phố ở Việt Nam, nhưng ở giai đoạn đầu của quá trình đô thị hóa bền vững, các nước Bắc Âu cũng gặp những thách thức tương tự Việt Nam đang gặp phải. Các thủ đô Bắc Âu trong vài thập kỷ qua đã phải đưa ra các quyết định chính trị và hành chính táo bạo để đưa các thành phố vào quỹ đạo phát triển bền vững.

"Nếu cách đây 20 năm, ai đó bảo tôi hãy bơi giữa dòng sông ở Copenhagen thì tôi có thể cảm thấy phật ý. Nhưng giờ đây, tôi sẽ coi đó là một ý kiến hay trong một ngày hè ấm áp. Thậm chí người dân Đan Mạch giờ đây còn thích bơi ngay giữa mùa đông", Đại sứ hài hước nói về thành quả môi trường mà Đan Mạch đạt được sau nhiều năm thực thi các chính sách phát triển bền vững.

Chìa khoá hợp tác đa phương

Các diễn giả đại diện cho các chính quyền thành phố, cơ quan nghiên cứu hay các tổ chức phi chính phủ ở Bắc Âu cùng chia sẻ những kinh nghiệm phát triển bền vững của các thành phố Bắc Âu. Ngoài lịch sử và văn hóa là những nhân tố nền tảng cho thành công của Bắc Âu, các diễn giả nhấn mạnh tầm quan trọng của giáo dục nhằm nâng cao hiểu biết của công chúng về bảo vệ môi trường, sự hợp tác công, tư và xã hội dân sự trong việc thực thi những mục tiêu phát triển bền vững.

 

 

Bà Eva Schelin, Giám đốc điều hành của Quỹ Tri thức (Knowledge Foundation) ở Thụy Điển, một tổ chức tài trợ nghiên cứu cho 22 trường đại học ở Thụy Điển, cho rằng việc tạo ra hợp tác, quan hệ đối tác tốt giữa các bên liên quan chịu tác động và tham gia vào việc quy hoạch, tài trợ và phát triển các thành phố thông minh rất quan trọng.

"Cần phát triển các công cụ chính sách hỗ trợ phát triển bền vững, hợp tác giữa giới học thuật và doanh nghiệp để đạt được sự hiểu biết về động lực thúc đẩy các bên liên quan và can đảm thử nghiệm và chấp nhận thử nghiệm các giải pháp mới," bà chia sẻ.

 

 

Kể từ năm 1994, Quỹ Tri thức Thụy Điển đã hỗ trợ 1 tỷ USD cho 3.324 dự án nghiên cứu ở các trường đại học, với sự hợp tác chặt chẽ với giới doanh nghiệp trong nước. Chính phủ Thụy Điển đã xây dựng một chương trình đối tác đổi mới sáng tạo với giới nghiên cứu và doanh nghiệp nhằm mục tiêu xây dựng và phát triển những thành phố bền vững đáng sống theo các tiêu chí: sạch, gần (có thể đi đến các điểm tiện ích trong 15 phút), dễ tiếp cận, tiết kiệm năng lượng, trung hòa carbon và đa dạng. Với sự hợp tác chặt chẽ này, Chính phủ nước này đã đưa ra các luật lệ và quy định và đảm bảo thực thi, doanh nghiệp tài trợ cho nghiên cứu và đổi mới sáng tạo, giới nghiên cứu tìm tòi và thử nghiệm những phương án mới.

"Để xây dựng nên các thành phố bền vững, cần rất nhiều kiến thức, nỗ lực, lòng dũng cảm và kỹ năng và sự phát triển các chính sách hỗ trợ. Chính quyền cần phối hợp với khu vực tư và xã hội dân sự để đạt được mục tiêu này," bà kết luận.

 

 

Bà Karine Herzberg, Cố vấn đặc biệt của Sở Giao thông và Môi trường Oslo, thủ đô của Na-uy, chia sẻ cách tiếp cận linh hoạt của chính quyền thành phố này để đưa Oslo trở thành thành phố không phát thải và thích ứng với khí hậu. Đó là việc áp dụng một ngân sách khí hậu, nằm trong quy trình dự toán ngân sách thông thường của thành phố, như một công cụ lập kế hoạch và theo dõi việc thực thi các mục tiêu khí hậu. Ngân sách khí hậu trở thành một cơ chế quản lý hiệu quả giúp chính quyền thành phố xác định được chi phí và đơn vị chịu trách nhiệm thực hiện cũng như nhận diện các biện pháp cắt giảm phát thải.

 

 

Bà Jenny Skagestad, Cố vấn về giao thông không phát thải của tổ chức ZERO (Tổ chức Tài nguyên Không Phát thải) chuyên thiết kế và thực hiện các giải pháp về khí hậu, chia sẻ những biện pháp mà chính phủ Na Uy đã áp dụng để điện hóa giao thông đô thị. Cụ thể, chính quyền các thành phố ở nước này phải mua và sử dụng các dịch vụ và phương tiện giao thông chạy điện, xây dựng các trạm sạc cho mọi loại phương tiện chạy điện và dành các ưu đãi/lợi ích kinh tế và không gian cho các phương tiện chạy điện. Hiện thủ đô Oslo là nơi có tỉ lệ xe điện trên đầu người cao nhất thế giới.

Bài học cho Việt Nam

Nền tảng nhận thức về môi trường cũng như văn hóa gần gũi với thiên nhiên của người dân Bắc Âu là những yếu tố quan trọng dẫn đến câu chuyện thành công của các nước Bắc Âu. Tuy nhiên, theo bà Karine Hertzberg, điều quan trọng là chính quyền thành phố phải thực thi và duy trì những chính sách môi trường mạnh mẽ và nhất quán; những chính sách này xuất phát từ mục tiêu tạo ra các giải pháp môi trường mà công dân được hưởng lợi. Đồng thời, những giải pháp có cách tiếp cận làm sao để duy trì được công bằng xã hội và kinh tế, để những người dân thu nhập thấp cũng có thể sử dụng giao thông công cộng.

 

 

Bà Lykke Leonardsen, người điều hành chương trình Giải pháp thành phố bền vững và thích ứng ở Copenhagen cũng nhấn mạnh tầm quan trọng của giáo dục để người dân nhận thức được tầm quan trọng của phát triển bền vững và sự lôi kéo người dân tham gia vào quá trình tiếp cận và hoạch định những chính sách xây dựng thành phố bền vững.

Tiến sĩ Lê Việt Phú, giảng viên trường Fulbright, cho rằng để xây dựng những thành phố xanh như các nước Bắc Âu, Việt Nam cần tập trung vào một số điểm thiết yếu là chính sách năng lượng, giao thông, xử lý rác thải và ô nhiễm không khí. Hiện nay ở Việt Nam, những nguồn năng lượng thay thế vẫn chưa có sự bứt phá so với năng lượng hóa thạch truyền thống.

Theo ông, lý do chủ yếu là hệ thống đường dây truyền tải hiện nay chưa đáp ứng kịp tốc độ tăng trưởng nhanh trong thời gian ngắn, dẫn đến nút thắt về hạ tầng cơ sở. Những quy định về đầu tư nước ngoài hay những chính sách về giá năng lượng tái tạo cũng chưa thực sự rõ ràng về tầm nhìn dài hạn, khiến các nhà đầu tư nước ngoài còn dè dặt. Do vậy, để tạo sự bứt phá cần có chính sách năng lượng để khuyến khích chuyển dịch sang các nguồn năng lượng thay thế như năng lượng mặt trời, năng lượng điện gió...

 

 

Bà Jenny Skagestad nhận xét Việt Nam có những thách thức giống như các nước Bắc Âu khi bắt đầu quá trình "xanh hóa" đô thị. Rất nhiều thành phố lớn trên thế giới, dù là ở Trung Quốc hay ở Mỹ, cũng đang ở trong quá trình chuyển đổi từ các phương tiện giao thông xả khí thải sang các phương tiện giao thông chạy điện, và tỷ lệ điện hóa của các thành phố này mất 5-10 năm mới theo kịp Na Uy hiện nay. Bà cho rằng điều quan trọng là chính quyền các thành phố này cho phép công dân thử nghiệm các phương tiện giao thông chạy điện, giống như Na Uy đã làm cách đây 10 năm là đặt ra các "ngày thử nghiệm" (testing days), để người dân nhận thức giao thông trở nên thuận tiện hơn, sạch hơn như thế nào so với giao thông truyền thống.

 

 

"Khi công dân và doanh nghiệp có cơ hội thử các phương tiện này và trải nghiệm được tiện ích của chúng, họ sẽ quan tâm và chú ý tới điện hóa giao thông, từ xe đạp, xe máy metro điện, tàu điện, xe buýt điện, phà điện cho đến taxi điện," bà cho biết.

Chính quyền thành phố cũng nên có chính sách mua sắm công các phương tiện giao thông công cộng chạy bằng điện trong bước đầu của quá trình điện hóa giao thông, bà kết luận.

  • Thúy Hằng

Những bài viết liên quan